Luận văn ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CANSLIM NHẰM LỰA CHỌN DANH MỤC CỔ PHIẾU ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM (HOSE VÀ HNX)
Khi vừa thành lập năm 2000, đầu tiên thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ có 2 công niêm yết. Sau gần 10 năm có khoảng 500 công ty niêm yết và giờ đây đã có trên 700 công ty niêm yết (năm 2017). Trong năm nay, thị trường có thêm kênh chứng khoán phái sinh ra đời. Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước tiến thần tốc, là kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp đồng thời là kênh đầu tư cho các nhà đầu tư. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về lượng đó, các nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng đã chuyên nghiệp lên không kém, dần hình thành lên khá nhiều mô hình chọn lọc cổ phiếu tạo danh mục đầu tư riêng biệt. Nhưng việc xây dựng một danh mục đầu tư chứng khoán có dễ không? Làm sao biết được danh mục của mình hiệu quả không? Và quản trị danh mục đó theo thời gian là như thế nào?...
Giải quyết các câu hỏi trên và công việc hiện tại nên người viết chọn đề tài: Ứng dụng mô hình CANSLIM nhằm lựa chọn danh mục cổ phiếu đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam (HOSE và HNX).
Hiện nay, có 2 phương pháp phân tích chứng khoán chính: phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, khuyết điểm riêng, vì thế việc kết hợp hài hòa giữa hai phương pháp trên sẽ mang lại hiệu quả vô cùng cao. CANSLIM là một trong những mô hình như thế.
Mô hình CANSLIM cũng được biết đến ở Việt Nam khá nhiều. Tuy nhiên, CANSLIM chỉ được đề cập một cách khái quát, chỉ nêu ra những giá trị cốt lõi trong phương pháp đầu tư. Còn đi sâu vào chi tiết, cụ thể hóa từng nội dung, điều chỉnh cho phù hợp thị trường chứng khoán Việt Nam thì mỗi người đều có những nhìn nhận khác nhau, đưa ra những quan điểm khác nhau, chưa có sự thống nhất. Ngoài ra, kết quả thành công của các nhà đầu tư ra sao khi vận dụng mô hình CANSLIM vào thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn là một ẩn số.
Vì vậy, người viết mong muốn hình thành mô hình CANSLIM có điều chỉnh phù hợp cho việc đầu tư chứng khoán tại Việt Nam.
Kể từ khi ra đời vào năm 2001, đến nay sau gần 17 năm phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như các thị trường chứng khoán mới nổi khác phải đối mặt với những vấn đề biến động và kém hiệu quả khác, đã trải qua nhiều cột mốc ghi dấu như vào đầu năm 2006 VN-Index đạt khoảng 500 nhưng đến tháng 3/ 2007 VN-Index đạt 1100 điểm sau đó đến tháng 3/2008 bắt đầu giảm không phanh xuống 300 điểm vào cuối năm. Trong giai đoạn này, rất nhiều nhà đầu tư tham gia thị trường chứng khoán đều lỗ, vì các mã chứng khoán đều suy giảm mạnh mất đến hơn 50% giá trị có những mã chứng khoán chỉ còn 10% giá trị so với thời điểm năm 2007. Duy chỉ có 2 cổ phiếu vẫn còn giữ giá trị trong thời suy giảm bão táp đó là cổ phiếu VNM và DHG. Nhiều tranh luận cho rằng đó là yếu kém bộc phát của thị trường mới nổi nhất là sự đầu cơ, đầu tư theo tâm lý bầy đàn, đầu tư theo thông tin nội gián của các nhà đầu tư tham gia thị trường… Tuy nhiên, trong giai đoạn này, cũng có một số quỹ đã tuyên bố thành công khi danh mục của họ chứa đựng các cổ phiếu tốt và họ còn được lợi tức về cổ tức… Vậy câu hỏi đặt ra họ đã sử dụng mô hình, phương pháp nào để chọn lựa những cổ phiếu tốt trong một thị trường mà các vấn đề thông tin vẫn chưa minh bạch?
Hiện nay, có khá nhiều mô hình đầu tư, lựa chọn cổ phiếu đáng tin cậy được ứng dụng cho đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam như mô hình QUANT, TOP DOWN, GANT, CANSLIM, sử dụng phân tích tài chính kết hợp với mô hình MarKowitz trong việc lựa chọn cổ phiếu đầu tư … Những mô hình, phương pháp này được xây dựng bởi những nhà đầu tư thành công nổi tiếng trên thị trường chứng khoán và đã chứng minh được tính hiệu quả, an toàn và mang lại lợi nhuận khi áp dụng vào thực tế. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là phần lớn các mô hình này đều được xây dựng, phát triển dựa trên nền tảng thị trường chứng khoán nước ngoài. Sẽ là sai lầm nếu đem những mô hình áp dụng hoàn toàn vào thị trường chứng khoán Việt Nam. So với thị trường chứng khoán của các nước trên thế giới, thị trường ở Việt Nam vẫn thuộc là những thị trường mới nổi có rất nhiều sự khác biệt về quy mô, trình độ quản lý, vấn đề pháp lý, tâm lý nhà đầu tư, cơ sở hạ tầng… Rõ ràng cần có những phương pháp, mô hình đầu tư chứng khoán để phù hợp với thị trường Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, phần lớn các nhà đầu tư, nghiên cứu về thị trường chứng khoán thường hay sử dụng các mô hình, phương pháp của nước ngoài để áp dụng tại Việt Nam. Dù có điều chỉnh cho phù hợp nhưng vẫn dựa trên quan điểm cá nhân của từng người, chưa thể xây dựng thành một lý thuyết chung được công nhận cũng như khả năng thành công khi áp dụng vào thực tế cũng chưa có kết quả thống kê rõ ràng.
Hiểu một cách khái quát nhất thì danh mục đầu tư là một tập hợp gồm ít nhất hai loại chứng khoán trở lên. Mục đích cơ bản nhất của việc xây dựng và quản lý một danh mục đầu tư là đa dạng hoá nhằm tránh các khoản thua lỗ quá lớn
Khi đồng thời đầu tư vào nhiều loại chứng khoán khác nhau, sự thua lỗ của một loại chứng khoán chỉ có tác động nhỏ đến toàn bộ danh mục, thậm chí nhiều khi nhà đầu tư có thể bù lỗ bằng lợi nhuận thu được từ các chứng khoán khác trong cùng một danh mục đó.
Tuy nhiên, việc hạn chế thua lỗ bằng cách đa dạng hoá danh mục đầu tư cũng có một cái giá của nó: không thể thu được các khoản lợi nhuận lớn. Rất ít người đầu tư có thể thu được khoản lợi nhuận cao từ việc đầu tư tất cả số tiền của họ vào một loại chứng khoán tốt nhất hiện có trên thị trường. Do đó, đại đa số công chúng đầu tư chọn hình thức đầu tư thứ hai là giảm thiểu hóa thua lỗ bằng cách đa dạng hoá đầu tư. Và suy cho cùng thì việc từ bỏ những món hời lớn, bằng lòng với những khoản thu nhập vừa phải để tránh thua lỗ quá mức là một cái giá vừa phải và hoàn toàn hợp.
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn danh mục cổ phiếu đầu tư
Quản lý danh mục có nhiều ý nghĩa khác nhau đối với nhiều người khác nhau, nhưng nhìn chung, đây là một cách nhằm cân bằng rủi ro và lợi nhuận (“phần thưởng”). Và trong khi mục tiêu của một chiến lược đầu tư dường như rất rõ ràng – kiếm tiền – nó thường tùy thuộc và hoàn cảnh của một nhà đầu tư.
Thí dụ như, một nhà đầu tư trẻ vừa tham gia vào lực lượng lao động toàn thời gian có thể sẽ hy vọng rằng danh mục đầu tư của anh ta sẽ tăng trưởng và đem đến cho anh ta khoản tiền kha khá khi anh ta về hưu. Trái lại, một người lao động lớn tuổi hơn có thể chỉ đơn giản muốn giữ lại những gì mà anh ta đã tích lũy. Rõ ràng,
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp trong quá trình thực hiện. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu thứ cấp của các công ty chứng khoán, ứng dụng phương pháp định lượng và định tính. Trong đó, phương pháp thống kê phân tích, phân tích so sánh và phân tích theo chỉ số đóng vai trò chủ đạo.
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn, người viết đã được sự hỗ trợ tận tình từ giảng viên hướng dẫn, đồng nghiệp và gia đình. Đầu tiên, người viết xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS-TS Nguyễn Xuân Minh, giám đốc trường Đại học Ngoại thương cơ sở 2. Nếu không có sự chỉ dạy và hướng dẫn tận tình của thầy thì người viết không thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình. Đồng thời, người viết cũng xin gửi lời cám ơn đến Thạc sĩ Tô Thị Tú Trang, một chuyên gia chứng khoán với 16 năm kinh nghiệm. Nhờ những kinh nghiệm thực tiễn của Thạc sĩ mà người viết có thêm kiến thức để đưa vào bài nghiên cứu này.
Ngoài ra, người viết cũng xin gửi lời cám ơn ông William J. O’Neil, tác giả của quyển sách “How to make money in stocks?” Nhờ nghiên cứu về mô hình CANSLIM của ông mà người viết có thể kế thừa, áp dụng vào thị trường chứng khoán Việt Nam.
Cuối cùng, người viết xin gửi lời cám ơn đối với gia đình, đồng nghiệp đã ủng hộ tinh thần của người viết trong các giai đoạn khó khăn của việc nghiên cứu.
Xin chân thành cám ơn.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC ỨNG DỤNG MÔ HÌNH CANSLIM NHẰM LỰA CHỌN DANH MỤC CỔ PHIẾU ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM (HOSE VÀ HNX)
2.1 Lựa chọn danh mục cổ phiếu đầu tư
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các mã cổ phiếu của những công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Hà Nội (HNX), như vậy sẽ có gần 700 mẫu. Đề tài này loại bỏ các công ty, tổ chức không có thực hiện giao dịch khớp lệnh trên sàn, các công ty trên hai sàn đáp ứng dữ liệu đầu vào của hai mô hình.
Nghiên cứu và ứng dụng mô hình CANSLIM vào thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm tìm ra danh mục đầu tư hiệu quả trên thị trường chứng khoán.
Dựa trên kết quả đó để tích hợp mô hình thiết lập danh mục đầu tư thích hợp với thị trường chứng khoán Việt Nam

